Truyện Ma Mối Khinh Khủng Tại Đồn Lính Pháp

– Ồ! Cháu Liz đó sao! Ta nghĩ mình bị ảo giác. Trong bộ y phục của vua Louis XV, trông cháu như con trai ấy!
Giáo sư Randall dừng lại trong đại sảnh của trường Starhurst – ngôi trường trung học chính của Penfield – để trao đổi vài câu với chị em nhà Parker.
Elizabeth, còn được gọi là Liz, và một cô bé tóc nâu mười bảy tuổi. Ann, nhỏ hơn Liz một tuổi, mang trên tay một bộ quần áo khác, nhưng là một quần áo của phụ nữ bằng sa-tanh có đính khá nhiều ren. Cô bé tươi cười làm đung đưa mái vàng hoe. Cô bé thích thú với nhận xét của giáo sư Randall. Ông là chồng bà Hiệu trưởng và cũng là giáo sư dạy môn sử. ông rất dễ mến nhưng nổi tiếng rất đãng trí.
Liz vừa cười vừa giải thích:
– Đây là quần áo của chúng cháu dành cho vở hài kịch.
– Hài kịch nhạc ư? À! phải… ta đã nhớ ra rồi!
Nhưng, theo cách ông ta hỏi hai đứa trẻ, chúng nhanh chóng hiểu rằng ông đã quên điều mà cả trường bàn tán xôn xao từ tháng ba. Thế mà, bây giờ đang là giữa tháng tư!
Liz và Ann bèn giúp ông Randall nhớ lại đó là một vở kịch mà câu chuyện xảy ra ở nước Pháp, dưới thời vua Louis XV. Vở kịch mang tên:
“xin chào mùa Xuân!”. Buổi trình diễn sẽ đánh dấu một niên học vào tháng sáu. Tiền thu được sẽ dành cho những công tác từ thiện. Phần nhạc của vở kịch này được giao cho học sinh trường Starhurst sáng tác và hoà âm.
– Liz và cháu đã viết một bản nhạc cả lời lẫn nhạc, – Ann sôi nổi nói thêm vào. – Chúng cháu rất muốn nó sẽ được chọn, chỉ có bốn bản nhạc cho vở kịch cho nên sự cạnh tranh sẽ rất cam go.
– Ta thành thật chúc các cháu sẽ được chọn. – Ông Randall hiền lành vừa cười vừa tuyên bố.
Nói xong ông bèn rời hai chị em để vào phòng làm việc và khoá cửa phòng lại, Liz và Ann thì lên phòng của mình. Chúng có hai phòng, một phòng là phòng ngủ, phòng kia là phòng học.
Đã năm giờ rưỡi rồi! – Liz kêu lên sau khi nhìn vào đồng hồ báo thức của mình. – chúng ta hãy nhanh chóng thay quần áo. Rồi mang bản nhạc của chúng ta đến gặp cô Rosemont.
Liz vội vàng xỏ tay vào một cái áo đơn giản, rồi mở hộc bàn để lấy bản nhạc ra.
– Chà! bản nhạc của chúng ta đâu rồi? – cô bé ngạc nhiên nói khẽ.
Cô bé tìm trong đồ đạc của mình. Ann cũng tìm trong đồ đạc riêng của mình.
Hai chị em tìm cả dưới gầm giường, nhưng vô ích thôi, Liz nhíu mày phát biểu:
– Có thể Fritzi Brunner, chị phục vụ mới vào các phòng của chúng ta đã vô ý vứt bỏ nó đi rồi.
– Tốt hơn hết, ta nên đi hỏi chị ấy! – Ann quyết định. – Ta đi nào!
Chúng đến gian phòng nơi nhân viên của trường ăn một bữa ăn nhẹ vào giờ đó. Fritzi bảo rằng chị ta không hề thấy bản nhạc ở đâu cả. Hai chị em nhà Parker bực dọc trở lại phòng của mình, chúng vừa về đến phòng thì cũng vừa lúc Fritzi đến gõ nhẹ lên cửa phòng. Cô phục vụ hỏi với một giọng đầy bí ẩn.
– Hai cô vui lòng cho tôi biết hai cô đã làm thế nào để tìm lại những vất đã mất. Mọi người đã kể cho tôi nghe rằng hai cô rất có năng khiếu thám tử.
Liz và Ann bật cười và thú nhận rằng thật vậy, chúng may mắn đã khám phá một vài vụ rắc rối. Chúng hứa với Fritzi sẽ hướng dẫn cho chị ta để tìm theo dấu vết những người và đồ vật. Còn trong lúc này chúng không còn thời gian để giải quyết một vấn đề cấp bách. Khi Fritzi đã đi, Ann kêu lên:
– Em biết phải bắt đầu tìm từ đâu rồi!
Liz mỉm cười:
– Chị đoán em nghi ngờ Letty và Ida!
– Đúng vậy! Chuyện này giống kiểu chúng hay thực hiện những trò đùa xấu xa của chúng!
Rõ ràng Latitia Barclay là một nữ sinh nội trú đáng ghét nhất của trường Starhurst, nó đã nhiều lần chơi xấu hai chị em nhà Parker vì nó ganh tị với tiếng tăm của họ. Ida Mason, đứa bạn cùng phòng của nó không khá gì hơn nó. Vì không thông minh nên nó đành theo đuôi của Letty.
Letty và Ida không ở trong phòng của chúng, Liz và Ann cũng không thấy bản nhạc của mình.
– Đáng tiếc, chúng ta không thể lục tìm trong các hộc tủ của chúng! Ann thở dài khi đóng cửa phòng của chúng lại. Có khả năng chúng giấu bản nhạc của chúng ta ở đâu đó.
– Nếu Letty là thủ phạm, có thể nó sẽ tự bộc lộ thôi, – Liz nói. – Chúng ta đã mất quá nhiều thời gian. Đã đến giờ ăn tối rồi.

Nơi bàn ăn, hai kẻ tình nghi ngồi đối diện với hai chị em nhà Parker. Chúng hoàn toàn tự nhiên. Có vẻ như chúng không hay biết gì về những nghi ngờ đang vây quanh chúng. Đến cuối bữa ăn, bà Hiệu trưởng đứng lên phát biểu vài lời với học sinh. Bà cao, mảnh mai, có tính kỷ luật cao nhưng tốt bụng và công minh chính trực. Học sinh rất yêu quý bà.
Các cháu thân yêu, Bà tuyên bố, các cháu sẽ may mắn được biết rằng ý định trình diễn vở hài nhạc kịch của chúng ta sẽ được dân chúng bên ngoài ủng hộ, người dân Penfield rất quan tâm đến nó và tôi đã nhận được nhiều thơ của phụ huynh đầy nhiệt tình dự định đến xem buổi trình diễn của chúng ta. Tôi thú nhận rằng một thành công như thế làm tôi lo sợ. Chúng ta đã bán một lượng vé quá số lượng ghế trong khán phòng của trường. Nếu cứ tiếp tục như thế, tôi buộc phải từ chối không bán thêm vé… và làm thất vọng những người mong muốn cổ vũ cho vở “Xin chào mùa Xuân!”.
Tiếng xuýt xoa tiếc rẻ vang lên ở khắp các bàn trong phòng ăn. Liz nói khẽ vào tai em của nó:
– Chúng ta còn chưa mua vé cho chú Dick và cô Harriet.

Thuyền trưởng Dick Parker và em gái của người, cô Harriet là những người thân duy nhất, là gia đình của Liz và Ann. Khi hai cô bé còn nằm trong nôi đã phải chịu cảnh mồ côi. Họ đã cưu mang và nuôi nấng chúng, ông Dick là thuyền trưởng chiếc tàu xuyên đại dương mang tên Balaska. Khi không ra khơi, ông sống bên cạnh người em gái của mình, trong một ngôi nhà riêng ở Rockeville, không xa Penfield. Liz và Ann rất gắn bó với người chủ vừa là cha đỡ đầu của chúng. Chúng biết đến tháng sáu ông sẽ được nghỉ phép và chúng rất sung sướng nếu ông đến dự buổi trình diễn. Nếu không còn chỗ thì thật là thất vọng!
Ann bỗng có một sáng kiến, nó đứng lên và xin phép bà Randall được phát biểu. Nó đề nghị:
– Nếu như chúng ta thuê nhà hát Mozart?
Nhà hát rất cũ kỹ này, nằm ở ngay trung tâm thành phố Penfield, vài năm trước đó có một cựu diễn viên nổi tiếng, Bà Gloria Millford đã mua nhà hát này và đến sống trong căn nhà ngay cạnh nhà hát. Bà ta rất tốt bụng, giàu có và nhân ái. Bà mua nhà hát chỉ vì tình cảm gắn bó với nhà hát, nơi bà đã hát suốt thời thanh xuân của mình.
– Cháu Ann, cháu có một sáng kiến tuyệt vời, bà Randall mỉm cười tuyên bố.

Chúng ta càng có nhiều người đến xem kịch, thì chúng ta càng có nhiều tiền cho những công tác từ thiện. Ngay ngày mai tôi sẽ đến thăm bà Millford. Tôi tin rằng bà ấy sẽ đồng ý cho chúng ta thuê nhà hát.
Tối hôm đó các nữ sinh nội trú xôn xao bàn tán về vở hài ca kịch. Hầu hết mọi người đều có một vai diễn hay giữ một vai trò nào đó…, một nhóm học sinh ồn ào hơn hết chắc chắn đó là nhóm “sáng tác nhạc”.
Khi quay về phòng và sau một đợt tìm kiếm vô vọng nữa, Liz và Ann bắt tay chép lại chính bản nhạc của mình có tựa đề là “Tất cả đều bí ẩn”.
Đến bữa ăn trưa ngày hôm sau, bà Randall thông báo rằng bà Millford đã vui lòng cho mượn nhà hát Mozart. Bà vui vẻ tuyên bố:
– Bà ấy đã tỏ ra rất hào phóng, nhưng bà cũng đã cảnh báo tôi rằng nhà hát của bà bị cho rằng có ma. Dĩ nhiên chuyện đồn đãi này không có thật và tôi nghĩ rằng không có cháu nào ở đây phải hoảng hốt vì quá tin vào chuyện ma quỷ.
Bà Randall ngồi xuống và khắp các bàn ăn lại râm ran những câu chuyện còn bỏ dở. Ann cười nói:
– Mình rất muốn đến xem nhà hát bị ma ám đó. Nhất là mình muốn biết con ma nào đang ám nhà hát đó!
– Tao mong mày sẽ gặp con ma đó! – Letty Barclay cay cú nói. – Mày có thể đảm lắm mà!
– Con ma đó ư! Tại sao lại không! – Ann vui vẻ đáp, – càng điên càng cười nhiều!
Sau những tiết học buổi trưa, bà Hiệu trưởng cho gọi hai chị em nhà Parker lên văn phòng. Bà Gloria Millford đã trao lại bà một chiếc chìa khoá nhà hát Mozart và bà Randall đã đến tham quan.

– Mặc dù rất cũ kỹ, khán phòng thì vẫn còn sử dụng được, tuy nhiên cần phải quét dọn rất kỹ. Ta giao cho hai cháu chìa khoá, các cháu sẽ cùng vài người bạn đến đó và tính xem cần phải làm những gì để có thể bắt đầu tạm tập dượt vở kịch của chúng ta. Ta sẽ hành động theo báo cáo của các cháu.
Được giao nhiệm vụ, Liz và Ann cùng đi với Evelyn Starr:
Starhurst trước khi được đổi thành trường học thuộc gia tộc của Evelyn. Cô bé này rất duyên dáng và thân mật nhất với hai chị em nhà Paker.
Cùng đi với ba cô bé còn có Doris Harland, Audrey Freeman và Magaret Glenn. tất cả bọn họ đã học bài xong và không muốn gì hơn lợi dụng nhiệm vụ này để được giải trí thoải mái một chút.
Cả sáu nữ sinh nội trú vui vẻ lên đường đến nhà hát Mozart nằm trên con đường chính của Penfield. Trước kia nó tuyệt đẹp đến mãi bây giờ vẫn còn giữ vẻ đẹp bên ngoài.
Nhóm nhỏ nữ sinh dừng lại trước mặt tiền nhà hát. – Toà nhà rộng lớn quá! – Doris kêu khẽ khi ngước nhìn lên. Ann đưa chiếc chìa khóa vào ổ khoá to lớn và xoay nó. Cửa mở ra với một tiếng rít buồn thảm. cô bé dũng cảm bước vào.
Gian nhà có vẻ như một cái hang tối om. Từ khi nó bị bỏ phế, người ta đã cắt điện và có lẽ phải vận động một thời gian để có điện trở lại.
Đã được biết trước sự việc này nên sáu người bạn nhỏ mang theo đèn pin.
Họ lần lượt bật đèn lên. Rồi sau khi vượt qua phòng giải lao, họ bước vào khán phòng.
Sự im lặng nặng nề đến nỗi có vẻ như có thể sờ thấy được. Dù rất dũng cảm họ không phải rùng mình, khó chịu, khi tiến về hướng sân khấu.

Bỗng một tiếng kêu thật nhỏ, thật nhỏ, chỉ khẽ lọt vào tai khiến không khí đằng sau họ giao động. Không bảo nhau, sáu cô bé đồng loạt quay lại. Và rồi, họ đưa mắt nhìn lên… Trên cao, nơi hàng ghế ở bao lơn thứ ba, một ánh sáng mờ nhạt lôi cuốn tầm mắt họ. Đó là một thứ ánh sáng ma quái mang hình dáng một con người, màu trắng nhạt.
Thần kinh của Doris không còn chịu được nữa, nó đưa ngón tay về phía hình ảnh kỳ lạ và hét lên.
– Một con ma! Đó là một con ma!
Cái tính hiếu sát của hắn đã tỏ lộ rõ ràng hai lần: lần thứ nhất, khi hắn được tập “bay-don-nét” đâm vào những thằng người rơm giả làm quân địch. Hắn tự nhiên thấy nóng mắt, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau, và tưởng tượng ngay rằng những thằng người rơm đó là những kẻ bằng da bằng thịt… Chính vì thế mà lưỡi “bay-don-nét” nhọn hoắt và sáng loáng kia, hắn đâm phập vào một cách rất là sung sướng, hơn nữa, khi rút đầu nhọn ra, còn có máu nóng nung theo!

Chúng ta cũng nên công nhận cho hắn rằng trước đây, hắn không bao giờ ngờ rằng mình lại có ý muốn “thích giết người” đến như vậy… Lần thứ hai, là trong cuộc tập bắn. Mỗi phát súng của hắn trúng bia, là hắn thấy trong lòng hồi hộp vô cùng, tưởng tượng ngay rằng hồng tâm ấy chính là trái tim một kẻ trúng đạn ngã xuống và giãy giụa trong vũng máu. Cũng may là trường bắn lúc đó đông người, chứ không thì rất có thê hắn quay súng chếch đi, đê nhắm bắn vài người bạn đồng ngũ đứng không xa bia mấy, cốt đê hô to lên số điêm của người tập bắn trúng hay sai đích nhiều ít thế nào.

Một người lính thường, có một bộ thần kinh lành mạnh tất không bao giờ có những ý tưởng khát máu như hắn. Nhưng có lẽ ông thầy thuốc khi khám sức khỏe của hắn đã không lưu ý đến cái bệnh “tinh thần” kia của hắn, nên hắn mới có thê khoác được lên người bộ quân phục, và trong khi tập bắn và tập “bay-don-nét” mới có ý nghĩ ghê gớm kia!
Trong thời đại chiến thứ nhất – mà các ông “quyền” thường gọi là thời “la ghe đít-nớp-săng-cà-cộ”, cái đồn lính Pháp này, đóng sát ngay biên giới, ở một chỗ đèo heo hút gió nhưng được cái không khí trong quân ngũ cũng không lấy gì làm buồn tẻ lắm. Vì ở đây đã thu thập được một số người có rất nhiều nghề lạ: anh Vệ Choắt, trước đã đi theo gánh xiếc có tài thổi kèn “bú-dích” bằng dọc đu đủ, và vận hơi trong bụng nói được thành tiếng rõ ràng, nghe vẳng như tự đằng xa đưa lại trong khi hai môi anh không hề mấp máy chút nào… Lại anh Binh Thông, hãy còn ít tuổi mà đã bạc đầu – trước hình như đi hát tuồng trong một rạp nào ở ngõ Sầm Công hay Tam Thương gì đó – trong lúc hứng chí vẫn ca những bài hát Nam hay hát Khách, với những điệu bộ ngẩn ngơ thì thực khó ai nín cười với anh được! Lại cả anh Bếp Toóng-đơ nữa, trước có kiêm cả nghề thầy cúng, thầy tướng, cung văn và kép nhà trò nên anh không bỏ lỡ một dịp nào mà không thi thố những sở trường… Anh em trong đồn săn được một con hoẵng, thế là anh lập tức tổ chức ngay một buổi tế… bà chúa rừng. – Có đủ cả bát âm, hát nhà tư và múa bài bông nữa. Nhờ có bọn người vui tính ấy, nên không khí trong cái đồn biên giới này không bao giờ buồn tẻ, mặc dầu bọn người lìa gia đình này chẳng phải là không có nhiều lúc thương nhớ vợ con…

Đêm hôm đó, – vào hạ tuần tháng mười – đã bắt đầu giá lạnh. Trong đồn, dưới ánh mấy cây nến ấm áp, bọn Bếp Toóng-đơ đương quây quần lại mà hát cô đầu với nhau, cười nói giòn giã, thì điệu kèn “tắt lửa” nổi lên…
Binh Thông buông hai thanh tre dùng làm phách xuống, rồi ra hiệu cho Vệ Choắt tắt nến đi:
- Bọn ta quấy nhộn lắm, xem chừng ngài Đội đã có ý “trù”, kèn “tắt lửa” rồi mà còn đê nến, khéo mà anh em ăn cơm muối nhọc!
Vệ Choắt đã thổi nến, sực nhớ lại hỏi:
- À, mà cậu Cả Hợp mò mẫm đi đâu bây giờ chưa thấy về?
Cả Hợp là một anh lính mới, xinh tươi, rất được bọn các cô “mái” miền sơn cước quý mến… Hợp hiền lành, ngoan ngoãn, nên được tất cả các bạn đồng ngũ coi như đứa em nhỏ và hết sức che chở mỗi khi mắc phải lỗi lầm. Bếp Toóng-đơ chép miệng mà bảo:
- Tôi thấy thằng Hợp đi vào trong làng Mường từ lúc chập tối, chắc nó lại có hò hẹn với cô nào… Nhưng thằng bé độ này cũng mảng vui chơi quá, thường về ngủ chậm, thế nào cũng có một hôm ngài Đội vớ được lại phải tù sớm!
Nhưng không, Bếp Toáng đã quá lo xa… Lần này, dù vắng mặt lâu đến chừng nào, binh Hợp cũng không phải bị phạt.
Vì buổi sớm hôm sau, anh gác đã tìm thấy xác Hợp co quắp trên một mô đất nhỏ, cách đồn không xa mấy. Đầu Hợp bị chém gần lìa khỏi cổ, bằng một lưỡi “bay-don-nét”, lưỡi hãy còn sáng loáng một cách rùng rợn, dưới ánh triêu dương hãy còn nặng trĩu sương mờ!

Hợp bị ám sát một cách bí mật như vậy đã là một lối lo nghĩ cho các cấp chỉ huy. Cuộc điều tra lập tức được mở ngay, nhưng kết quả cũng không có gì, thì lại xảy ra một việc khác cũng tương tự như vậy.
Khác hẳn vụ án mạng trước, lần này người ta không còn nghi ngờ gì là chuyện thù hằn nữa. Vì kẻ bị giết, anh lính trẻ tuổi Lặc, lại là một người ngoan ngoãn hiền lành nhất trong cái đồn biên giới này. Lặc mới mười chín tuổi, không hề giận ai bao giờ, mặc dầu anh em đồng ngũ có tinh nghịch mà đặt cho cái biệt hiệu Di Lặc. Vì Lặc tuy còn ít tuổi, nhưng phốp pháp béo tròn. Hai má lúm đồng tiền, cái bụng anh phè phè, ai có đùa nhiều, chế giêu quá thì anh chỉ đỏ mặt mà cười hề hề…
Vậy mà Lặc cũng bị giết, và cũng trong một trường hợp rất dị kỳ. Đêm hôm ấy, Lặc nhân có người nhà gởi lên cho một ít tiền và quà bánh, đã đem khao anh em… Một bữa linh đình được tổ chức và nhân những dịp này, các bạn ít có liên lạc gia đình cũng được chia vui, bớt phần buồn bã… Chính bữa ăn linh đình ấy đã giết Lặc. Vì anh em ăn uống xong, đi ngủ quá lúc 1 giờ đêm, Lặc lổm ngổm bò dậy. Người bạn nằm bên hỏi:
- Di Lặc đêm khuya còn định đi đâu đấy?
Lặc ôm bụng nhăn nhó đáp:
- Nguy quá, anh ạ, tôi đau bụng từng cơn cuồn cuộn, tưởng có thê chết đi được. Tôi đã uống gần nửa chai dầu Nhị Thiên mà cũng không đỡ.
Và Lặc với tay lấy chiếc mũ vải vàng:
- Trời bên ngoài lạnh lắm, bây giờ phải ra giải quyết cái vấn đề “tiêu hóa” thì thực là buồn…
Lặc ra khỏi phòng, người bạn đồng ngũ lại còn cười, hỏi đùa tiên một câu:
- Liệu đi nhanh nhanh mà về nhé, ngồi lâu ngoài ấy, ông “ba mươi” vồ bắt thì lại cũng được một bữa “thương thực” đấy!
Nào có ai ngờ câu nói ấy lại là một lời vĩnh biệt: Lặc không bị con cọp vồ, nhưng lại bị ám sát thì cũng thế… Người bạn nói câu ấy sau đó đi ngủ, nhưng tới sáng, bừng mắt dậy, vẫn không thấy Lặc đâu cả… Trước hắn còn tưởng cái bệnh đau bụng của Lặc chưa khỏi, nhưng đợi mãi một lúc, vẫn không thấy Lặc trở về, hắn mới hoảng hốt đi báo cho viên Đội.

Thế là trong đồn phút chốc đã náo động vì cái tin Lặc bị ám sát, lần này cũng bị đâm chết bằng “bay-don-nét”. Một điều đáng chú ý hơn nữa là Lặc lại bị giết cách chỗ người đứng gác không xa là mấy. Theo lời người gác nói thì hắn đứng gác chỗ cách cây quéo cổ thụ chừng ba mươi thước đúng lệ thường, cứ nửa giờ đồng hồ thì hắn đổi “rỏn” một lần, đi đến đầu Suối Bạc thì trở về… Đêm hôm đó hắn cũng vẫn theo thường lệ đi gác và đi “rỏn” và cũng không thấy có điều gì lạ cả, mãi cho tới khi sáng, lúc thấy trong đồn náo động, hắn mới đê ý thấy phía sau gốc cây quéo như có nhiều ruồi nhặng bâu quanh một vật gì.
Và đó chính là xác chết của Lặc.
Theo sự khám nghiệm của ông quan ba thầy thuốc thì Lặc bị giết không sớm hơn trước lượt đi “rỏn” lần thứ ba của người gác là mấy. Cuộc điều tra tiến hành ráo riết và chỉ đi đến một kết quả là: Lặc đã bị giết một cách thật là oan uổng, có lẽ hung phạm nhằm giết người gác kia, đã núp vào sau gốc cây quéo từ lâu lắm, và vô tình, Lặc đã tới đó trước khi người gác đi “rỏn” nên hung phạm nhầm tưởng là hắn mà hạ sát.
Điều này khám phá ra, làm cho những sĩ quan được lệnh mở cuộc điều tra càng thêm bối rối vì khi hung phạm đã nhằm giết một người như vậy, tức là phải có một duyên cớ xác đáng nào…

Điều đáng chú ý nữa là giữa Hợp, – kẻ bị giết lần trước – với người lính gác, bị giết hụt lần này, không hề có một chút gì dính líu với nhau cả. Hợp thì có thê ngờ rằng vì chuyện ghen tuông mà bị giết, nhưng đối với người gác chết hụt này thì thực không còn có thê nghi ngờ điều gì được. Hắn là người lính gương mẫu, không hề phạm lỗi bao giờ, đối với anh em rất là khéo xử lại sẵn sàng giúp đỡ đối với mọi người… Có thê nói rằng ai hắn chỉ có thân ít hoặc thân nhiều mà thôi chứ không hề có một kẻ thù..
.
Binh lính trong đồn bàn tán rất nhiều về việc Lặc bị giết oan uổng, và nhiều người mê tín lại cho ngay rằng đó là một chuyện tác quái của con ma cây quéo. Người ta xì xào bảo: Cây quéo có một con ma to lắm, là một người con gái trước đây đã treo cổ lên cây đó đê tự tử, và oan hồn lẩn khuất, thường vẫn mặc áo trắng hiện lên trêu ghẹo mọi người…
Nhưng còn Hợp? Bọn người mê tín cũng buộc tội cho con ma cây quéo đã run rủi cho Hợp bị giết một

Bài trướcBài sau
Bình luận
Tên:

Facebook
Cùng chuyên mục
goon Truyện Ma - Mèo tinh ( 259 lượt xem)
goon Truyện Ma Giấc Mơ ( 445 lượt xem)
cat Chuyên mục khác
thumuc Game Online Mobile ( 1383 lượt xem)
thumuc Truyện Hay ( 854 lượt xem)
thumuc Truyện Voz ( 981 lượt xem)
thumuc Kiếm Tiền Trên Ứng Dụng ( 1181 lượt xem)
thumuc Kiếm Tiền Trên Android ( 987 lượt xem)
Hoạt động gần đây